Bá tước Phạm Viết Sức – Một võ tướng có công với triều Tây Sơn và đất nước.

Theo gia phả và truyền ngôn của các bậc trưởng lão qua các đời, dòng họ Phạm tại làng Khố Nội, xã Nga Khê, huyện Thiên Lộc (nay là xã Trung Lộc, huyện Can Lộc) vốn là con cháu nhà Mạc trốn chạy sự truy sát của chính quyền Lê – Trịnh, cải thành họ Phạm. Kể từ đời thứ nhất vào cư ngụ tại làng Khố Nội đến đức thế tổ Phạm Viết Sức (còn có tên là Phạm Công Sức) là đời thứ 8 và đến nay đã trải qua 15 đời.

Căn cứ vào gia phả họ Phạm tại Khố Nội, thì cụ Hoàng sơ thủy tổ có tên là Đức (long văn ghi: tiền lão nhiêu húy Đức) không ghi rõ về nguồn gốc, vợ con. Đức thế tổ thứ hai thì ghi rõ hơn: “Tiền Cao Bình quận, húy Nhân” (tên là Nhân, trước ở quận Cao Bằng).

Đến đời thứ ba, có lẽ do việc truy sát con cháu nhà Mạc đã không còn là vấn đề được chính quyền Lê – Trịnh quan tâm nữa nên thông tin về đức thế tổ thứ ba được ghi đầy đủ: “Thủy tổ khảo, tiền Đô chỉ huy sứ, Từ Liêm huyện, tri huyện Phạm tướng công, Nhân lý hầu, tỷ chính thất Nguyễn thị hạng nhất cung nhân” (thủy tổ khảo, trước là Đô chỉ huy sứ, Tri huyện huyện Từ Liêm, vợ cả người họ Nguyễn).

Nếu đối chiếu với tên húy thì rất có khả năng vị Hoàng sơ thủy tổ họ Phạm ở Khố Nội chính là Mạc Kính Vũ, vì khi lên làm vua, ông lấy niên hiệu là Thuận Đức, trong khi đó, vị Hoàng sơ thủy tổ của họ Phạm cũng lấy tên (húy) là Đức.

Mặt khác, khi ông Phạm Viết Đức vào Khố Nội là đời thứ nhất cho đến đời ông Phạm Viết Nuôi (trưởng tộc, mất năm 1998) đã là đời thứ 13. Năm ông Đức ra đi lánh mình tỵ nạn là năm 1677, đến năm 1998 là 321 năm, bình quân mỗi đời là 25 năm, như vậy vừa đúng 13 đời. Nếu tính từ đời Mạc Đăng Dung (1483-1541), người sáng lập ra triều Mạc, đến lúc con cháu nhà Mạc bắt đầu kết nối lại với nhau trên phạm vi toàn quốc là vừa tròn 500 năm.

Ông Phạm Thế Đức là thế tổ đời thứ 8, thuộc Giáp môn, Ất phái. Theo gia phả, ông là ưu binh thuộc quân doanh Ninh Trấn của triều đình Lê – Trịnh, có công phò tự vương Trịnh Tông, được vua Lê Hiển Tông phong là Phấn lực tướng quân, Hiệu lệnh ty tráng sỹ, Bách hộ chức. Sắc phong vào năm Cảnh Hưng thứ 44, tức là năm 1784. Gia phả không ghi năm sinh năm mất của ông, nhưng căn cứ vào nội dung và niên đại sắc phong thì lúc được phong có lẽ ông vào khoảng 25 đến 30 tuổi, tức là sinh vào khoảng năm 1754 đến 1759.

Theo gia phả (bản chữ Hán, nay đã thất lạc) và truyền ngôn của các bậc trưởng lão trong họ, thì năm Kỷ Dậu (1789), khi quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ ba để đánh đuổi quân Thanh và bọn bán nước Lê Chiêu Thống, ông đã theo quân Tây Sơn, chiến đấu dưới ngọn cờ chính nghĩa của Hoàng đế Quang Trung. Do có công lao trong chiến dịch Kỷ Dậu và những quân công khác dưới thời vua Quang Toản, nên đến niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1795), ông được sắc phong là Tráng Tiết tướng quân, Hùng úy, Diễm tài nam. Tiếp đến, theo nội dung tờ sai (tờ lệnh) của vua Quang Toản, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 5 (1896), ông lại được phong là chỉ huy sứ, tước bá.

Theo gia phả, ông bị tử trận vào năm 1802, trong cuộc chiến bảo vệ thành Nghệ An khi Nguyễn Ánh đưa quân ra Bắc đánh chiếm đất của nhà Tây Sơn.

Đức thế tổ Phạm Viết Sức không chỉ có công lao hạng mã với nhà Tây Sơn mà còn có nhiều công đức với nhân dân địa phương và dòng họ. Tương truyền, lúc còn làm bộ tướng ở dinh trấn Nghệ An, dưới thời Quang Toản, ông đã xuất tiền của xây dựng các công trình phúc lợi cho làng Khố Nội và cả xã Nga Khê.

Sang thời Nguyễn, do nhân dân và chức dịch địa phương báo lên triều đình, ông được ghi nhận về dương công (chỉ ghi công tôn phù nhà Lê) và âm đức (bảo hộ dân bản xứ), được phong thần với nhiều lần gia phong, được triều đình giao cho dân trong vùng thờ phụng. Hiện tại, dòng họ chỉ còn giữ được hai đạo sắc thời Khải Định của ông. Đạo sắc Khải Định năm thứ 2 (1917), truy phong đức thế tổ Phạm Viết Sức là Dực bảo trung hưng linh phù chi thần và đạo sắc Khải Định năm thứ 9 (1924), gia tặng ông là Đoan túc thôn thần(1).

Sau khi Đô Chỉ huy sứ Phạm Viết Sức tạ thế, nhớ ơn ông, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông tại làng Đình Cương, xã Nga Khê (nay là xóm Chợ Đình, xã Trung Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), tương truyền gọi là Đền Cây Lả, vì trước đền có hai cây lả cổ thụ. Theo các cụ cao tuổi trong làng cho biết, đền thờ ông khá lớn, có thượng điện, trung điện và bái đường, tắc môn, cổng tam môn, cột nanh hoành tráng. Đền thờ ông nổi tiếng linh thiêng một thời. Sau năm 1945, đền bị phá, bài vị, đồ tế khí, sắc phong bị hợp tự và đến nay đã bị thất lạc hầu hết. Các cụ lớn tuổi trong dòng họ cho biết, ông có đến hàng chục đạo sắc, nhưng sau này đã mất mát, hư hỏng gần hết, nay chỉ còn lại ba đạo sắc và hai bản sao (tờ sai và đạo sắc của Cảnh Thịnh) đựng trong một hòm sắc sơn son thiếp vàng cùng hai vỏ kiếm. Sau đó, con cháu rước bài vị, sắc phong và một ít đồ tế khí của ông về thờ chung trong nhà thờ đại tôn.

Hiện tại, nhà thờ ông đã được con cháu trong dòng họ đóng góp sức người sức của làm mới lại hoàn toàn, nằm trong khuôn viên nhà tộc trưởng Phạm Viết Kế. Nhà thờ có kiến trúc hình chữ nhật, lợp ngói, đầu đao, nóc đắp lưỡng long truyền nguyệt; mái gác tường, cột hiên đắp hình rồng cuộn. Bên trong có 3 bàn thờ, một bàn dành riêng thờ đức thần tổ Phạm Viết Sức.

Đức thần tổ chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ, Diễm đức bá Phạm Viết Sức là người, lúc sống có công với sơn hà, xã tắc; sau khi mất, lại hiển linh bảo hộ cho nhân dân. Điều đó, đã được ghi nhận trong gia phả, truyền ngôn, và đặc biệt là trong sắc phong của triều đình phong kiến Lê – Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn.

Khố Nội là một làng cổ được lập từ thời Lê Sơ, Trung Lộc là một xã có truyền thống lịch sử – văn hóa lâu đời. Qua các triều đại, con em của các dòng họ trong làng xã có không ít người tài đức đóng góp nhiều công lao cho quê hương, đất nước. Nhưng đáng tiếc là do nhiều nguyên nhân nên đến nay không có một nhân vật nào còn lưu giữ được bằng cứ để lập hồ sơ xin công nhận di tích, ngoại trừ Bá tước Phạm Viết Sức. Vì vậy, nhà thờ và các di tích còn lại của Bá tước Phạm Viết Sức trở thành một di sản văn hóa quý hiếm của địa phương(2).

Chú thích

(1). Các đạo sắc và tờ sai đều do Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh phiên âm và dịch nghĩa.

(2). Theo Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh cho biết, đến nay, ở tỉnh Hà Tĩnh các nhân vật lịch sử thời Tây Sơn được phong tước hầu, tước bá rất ít. Chỉ có 2 người được phong tước hầu và 5 người được phong tước bá. Cùng theo ông Thái Kim Đỉnh, danh hiệu Đoan túc tôn thần là danh hiệu của một vị thần được xếp hạng vào bậc cao.

Phạm Quang Ái

(nguồn: http://ngheandost.gov.vn)