Hoàng Lê – Một tấm gương say mê học hỏi và phục vụ hết mình

Ông sinh năm Nhâm Thân (1932). Hoàng Thế La là tên các cụ đặt cho. Sau này vào đời đi dạy học ông mới đổi lại là Hoàng Lê. Cụ thủy tổ là Mạc Đăng Khuê ở ngoài Bắc di cư vào khai hoang lập ấp từ đầu thế kỷ 17 tại xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Một vùng quê có bề dày lịch sử. Từ thế kỷ thứ I, Đô Dương và Chu Bá, Chu Đạt các tướng của bà Trưng đã tụ tập nghĩa quân hàng ngàn người ở đây vây huyện thành Cư Phong. Đến thế kỷ thứ 3 (248) Bà Triệu đã luyện quân ở núi Sỏi, ngàn Nưa để chống quân Ngô. Thời thuộc Minh, Nông Cống trở thành căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn mà dấu tích là thành Nguyễn Chích (Tướng tài ba của Lê Lợi)…

          Nông Cống cũng là đất lắm người học hành tài giỏi, nên văn học dân gian có câu:

                    - Ông Nghè ông Cống: Cổ Định, Cổ Đôi

                       Học hành lôi thôi: làng Mưng, làng Cáo

          Và:

                    - Văn Chương Cổ Định, Cổ Đôi

                      Lắm thịt nhiều xôi, Đông Cao, Đông Cải

(Cổ Định nay thuộc huyện Triệu Sơn, Cổ Đôi gồm 4 làng Thổ Ngọc, Văn Đôi, Phu Huệ, Ngọc Tháp nay thuộc xã Hoàng Giang huyện Nông Cống).

          Xuất thân từ một dòng họ có tiếng lại ở một vùng quê vừa có truyền thống hiếu học, truyền thống cách mạng nên không lạ gì trong học bạ của ông, thầy phê là học trò thông minh (élève intelligent) và trong Hồi ký “35 năm một chặng đường” của Hoàng Nguyên, anh họ ông có ghi: “Năm 1944 – 1945, tôi và Lê lên lớp nhất (Cours Supérieur) năm cuối cùng của bậc tiểu học Pháp – Việt. Giáo viên dạy chúng tôi là thầy Phan Quang Luyện, các môn học đều viết bằng tiếng Pháp…Đậu tiểu học Pháp – Việt ở vùng tôi chủ yếu là con cháu họ Hoàng. Tôi và Lê là người cuối cùng của dòng họ đậu bằng này. Bằng ngày ấy có ấn quan Thương thư Bộ Giáo dục, ấn quan Nam Thủ Hiến tỉnh, và ấn quan Đốc học bản tỉnh. Hồi đó, ở nông thôn đậu được tiểu học là ghê lắm. Mẹ tôi kể lại, ở làng bên có một chị chỉ đậu bằng Sơ học yếu lược mà cả làng đi rước”.

          Cách mạng tháng Tám thành công. Ông cũng tham gia biểu tình mít tinh, dạy Bình dân học vụ và hoạt động thiếu niên… Lúc này mới 14 tuổi, bố bắt phải đi học tiếp. Cụ bảo: Con phải học để làm người hữu ích cho xã hội. Ông học trường Quang Trung do tú tài Phùng Quang Lan (nguyên là Hiệu trưởng trường Cao Đẳng tiểu học Nord Annam Thanh Hóa) làm Giám đốc. Các môn học đều được điểm cao, xếp loại 1er. Thầy phê: Chăm chỉ, rất tốt, có tương lai. Năm 1950 thi vào trường Quốc lập Nông Cống. Học giỏi là cán bộ Hiệu đoàn – Được bình chọn là học sinh gương mẫu của trường nên được tuyển thẳng vào trường cấp 3 Lam Sơn không phải thi (1952), trường sơ tán ở huyện Thọ Xuân cách nhà hơn 30 cây số. Hàng tuần, đi bộ về nhà lấy gạo lên nhà trọ, tự thổi nấu lấy ăn, trồng rau tự túc, học đêm với đèn tự tạo bằng hộp gíp đánh răng…Thật gian khổ mà cũng rất lạc quan. Nói là nhà trọ nhưng có mất tiền thuê nhà đâu, cứ từng nhóm 3, 4 học sinh ở một nhà dân, mỗi lớp ở một xóm, tắm giặt ra sông Nông Giang, quần áo thiếu thốn mặc chung nhau, chăn màn ngày ấy không có, chỉ đắp chiếu, giày dép cũng không, nên mới có khẩu hiệu “ một chống, ba không”, “một không, ba chống” tức là một chống gậy vì đường rất trơn, ba không là không dép, không quần dài, không xe đạp. Hoặc là một không là không có gạo còn ba chống là chống đói, chống rét, chống bệnh tật. Ấy thế mà vẫn có tiếng đàn, lời ca, vẫn có bống đá, thi bơi, có đêm diễn kịch, có đêm nghe Thiếu tướng Nguyễn Sơn bình luận truyện Kiều…và có lần Đoàn TNCQ học sinh tổ chức mặc niệm đồng chí Stalin rất trang trọng… Bao nhiêu dấu ấn kỷ niệm còn ngân vang. Năm 1953, Hoàng Thế La là một trong số học sinh xuất sắc toàn diện của trường nên được chọn đưa sang Trung Quốc học. Cùng đi có Lê Ngọc Lập, Quách Thị Thu Ba, Lê Văn Trúc… là cùng trường Lam Sơn. Đoàn đi du học năm ấy của khu IV gồm có cả cán bộ và học sinh có trình độ học vấn, tú tài, cử nhân, và phổ thông cấp 3. Đoàn trưởng là Hoàng Tử Đồng, trong đoàn ngày ấy rất đông từ Thừa Thiên đến Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Lân đầu tiên gặp nhau tuy xa lạ mà rất chan hòa phấn khởi. Có người biết tiếng từ lâu như chiến sĩ thi đua Hà Học Hợi đến bây giờ mới biết người, biết mặt. Các đoàn được học chính trị hàng tuần lễ với những bài học sâu sắc về khả năng tất thắng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, về lý tưởng xây dựng CNXH và CNCS, về lòng trung thành và trách nhiệm của người cán bộ được Đảng và nhân dân giáo dục rèn luyện, về tinh thần vượt khó học tập đế sau này phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân… Hành trang cho mỗi thành viên trong đoàn là như vậy, ngoài ra, mỗi người một ba lô, một bao gạo, một chiếc gậy và một đôi dép lốp Bình – Trị -Thiên. Cuộc hành trình từ cuối năm 1953 với hàng ngàn cây số đi bộ, toàn đi đêm xuyên qua núi cao rừng rậm, qua bao đèo dốc cheo leo và suối khe lạnh lẽo. Người này ngã, kể khác nâng dậy, ba lô nặng, bạn đồng hành mang hộ. Qua bao nhiêu bản, bao nhiêu làng không nhớ nổi, trạm dừng chân là giữa rừng chỉ lán mái tranh che ngụy trang cẩn thận, rải ni lông ra nằm, nấu cơm không được để khói bay lên, cảnh giác với máy bay địch oanh tạc. Ròng rã cả tháng, đêm đi ngày nghỉ vừa như bộ đội hành quân đi chiến dịch, vừa như dân công đi tiếp vận chiến trường. Đến Đồng Đăng, qua Hữu Nghị Quan, lên ô tô đến Bằng Tường, nhận quần áo mũ giầy rồi đi tàu hỏa đến Nam Ninh ( Thủ phủ Quảng Tây). Khu học xá Trung ương được thành lập theo quyết định của Bộ giáo dục ngày 1-10-1951. Ban đầu đặt chân ở Tâm Hư cách Nam Ninh 10 cây số. Năm 1953 chuyển ra ngoại ô Nam Ninh ở nhiều nhà tầng khang trang, có thư viện, có đại lễ đường để họp hành, xem chiếu bóng, có bể bơi sân bóng, có bệnh xá lớn..v.v. Khu học xá Trung ương này gồm nhiều các trường Sư phạm Sơ cấp, Sư phạm trung cấp rồi tách thành 2 hệ: Sư phạm Trung cấp Khoa học Xã hội và Sư phạm Trung cấp Khoa học tự nhiên, trường Trung văn, trường Phổ thông, nhà trẻ và mẫu giáo… Đây là một mô hình đào tạo đặc biệt và hiếm có mà trước đó là do hoàn cảnh xã hôi, hoàn cảnh chiến tranh chưa xây dựng được. Ban Giám đốc Khu học xá là các ông Võ Thuần Nho, Nguyễn Xiển, Lê Văn Thiêm, Ngô Văn Chiển. Ông Giám đốc Khu học xá Trung  ương đã có lần phát biểu: “Theo chủ trương của Đảng, đã tập trung được nhiều nhà trí thức, nhiều thầy giáo ưu tú. Bác Hồ đã dặn các cơ quan rằng, tuyển người sang phải có chọn lọc. Họ là những trí thức yêu nước nồng nàn, đã rời Thủ đô, quê hương, gia đình đi làm cách mạng, theo Bác Hồ lên Việt Bắc hoặc ra vùng giải phóng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thiếu thốn của những năm đầu kháng chiến gian khổ, gay go, một lòng cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập. Với tinh thần ấy, trong vị trí công tác mới, có điều kiện làm việc thuận tiện hơn, yên tĩnh hơn. Không bị rầy rà bởi tiếng bom đạn, không phải lo chạy ăn, chạy mặc cho gia đình, họ đã đem hết trí tuệ và tinh thần yên nước của mình để cải tiến và sáng tạo nội dung phương pháp giảng dạy, giáo dục. Mỗi giờ lên lớp là một giờ vừa truyền thụ tri thức, vừa khơi dậy trí tuệ, bồi dưỡng lòng yêu nước, căm thù giặc. Những giờ không lên lớp, họ miệt mài nghiên cứu, xây dựng, cải tiến các nội dung phương pháp, vận dụng kinh nghiệm của các nước anh em. Người nào cũng ra sức học tiếng nước ngoài, học tiếng Nga, tiếng Trung Quốc để học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn, tiếp thu thành tựu khoa học mới. Có thể nói kinh nghiệm giáo dục, thành tựu khoa học Liên Xô, Trung Quốc xâm nhập vào Việt Nam bắt đầu từ hồi ấy, ở KHX Trung ương.

          Những thanh niên trai gái gửi sang học tập ở đây, ông Võ Thuần Nho nói: “Đó là những con em nhân dân lao động ở các vùng bị tạm chiếm hoặc các vùng giải phóng, đó là con em của những cán bộ đang lăn lộn trên các chiến trường, ở các cương vị khác nhau. Nét nổi bật trước hết ở họ là tình cảm trong sáng với nước, với dân, với Bác Hồ và Đảng lãnh đạo. Khi mới đến trường, họ có ý nghĩ chung là phải học tập, rèn luyện để trở về nước phục vụ nhân dân, góp phần nhỏ của mình cho cuốc kháng chiến đi đến thắng lợi… Có thể nói, thế hệ trẻ đó, lúc bấy giờ đã mang trong người mầm mống của những phẩm chất tốt đẹp… Có thể nói thế hệ trẻ đó đã nên người: biết sống, biết làm việc, biết phát huy cái tốt, cái đúng, tránh cái xấu, cái sai’’.

           Người viết bài này phải nói hơi nhiều về Khu học xá Trung ương, nơi mà các bạn Trung Quốc gọi là “Dục tài học hiệu”, chính là để nói Hoàng Thế La (sau này là Hoàng Lê) đã được đào tạo ở môi trường đặc biệt như vậy. Vốn đã thông minh, chăm chỉ, đầy nghị lực, nay lại được đào tạo ở nơi quy mô lớn nhất nước ta kể từ sau Cách mạng Tháng Tám, mọi hoạt động đều nhằm mục đích chuẩn bị cho các nhà giáo tương lai, những cán bộ phong trào cách mạng, trong môi trường giáo dục toàn diện ấy lẽ dĩ nhiên ông (HL) đã định hướng nghề nghiệp một cách rõ rệt, tự giác chuẩn bị công việc tương lai của mình. Ngoài những giáo trình bộ môn và những tài liệu tham khảo KHX in ấn phát, ông còn Sổ tay kiến thức chép những gì đã học, đã đọc trong sách vở, báo chí như những bài ký Lòng yêu nước của E răng bua. Ai là người đáng yêu nhất của Ngụy Nguy, tóm tắt tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy, Cố Hương AQ chính truyện của Lỗ Tấn…Đọc và ghi chép đã trở thành thói quen thường nhật của ông. Như con ong cần cù hút nhụy hoa làm mật, ông chú ý sưu tầm lượm nhặt, hệ thống những gì thấy có ích, thấy cần thiết cho công việc giảng dạy sau này và coi đó như những bảo vật thiêng liêng của nghề nghiệp. Ai một lần đến nhà ông cũng khen phòng làm việc của ông tuy nhỏ hẹp mà chỉ thấy toàn sách với sách, bốn giá sách cao chứa cả ngàn cuốn, được ông phân loại rõ ràng từng hàng trên giá sách. Nào sách triết học, chính trị, kinh tế học, sách văn học ( có văn học Hy – La, văn học Nga – Xô Viết, văn học Pháp, văn học Đức, văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam, văn học Dân gian, lý luận văn học), nào là sách sử – địa, sách công cụ tra cứu gồm các loại từ điển, sách Hán Nôm, các loại tạp chí v.v. Ông đã từng nói: “ Mình ước ao bao giờ có được vốn tri thức  về văn sâu rộng như của thầy Hoàng Như Mai, Đinh Gia Khánh, Trần Thanh Đạm, Nguyễn Lân… Có được hiểu biết uyên bác và trí nhớ tuyệt vời về Sử như các thầy Nguyễn Khang, Nguyễn Lương Bích, Văn Tân và môn Địa của thầy Phấn, thầy Lê Bá Thảo…thì mới dậy tốt được, mới xứng với công lao dạy bảo của các thầy cô. “Chí khát khao vươn lên về trí tuệ, năng lực hiểu biết và trình độ chuyên môn, một nhu cầu bản ngã trong cái vô ngã đó thật đáng quý biết bao, thật không vì danh, vì lợi.

          Đã nửa thế kỷ qua rồi mà Hoàng Lê vẫn còn giữ được chiếc huy hiệu Khu học xá có 8 chữ lời Bác Hồ dạy: Đoàn kết – Học tập –Tiến bộ – Phục vụ. Tốt nghiệp năm 1956 nhà trường hỏi nguyện vọng về đâu, ông bảo tùy theo sự phân công của Đảng, trong thanh niên lúc này đang dấy lên phòng trào Tam bất kỳ ( bất kỳ công tác, bất kỳ nơi đâu, bất kỳ đãi ngộ), là thanh niên tôi xin tình nguyện trước. Rồi ông được phân công về trường Sư phạm sơ cấp, được tham gia thực tập ở Quế Lâm và sau theo trường về nước. Trường đặt ở Cầu Giấy thuộc quận 6 Hà Nội, cơ sở vật chất còn quá thiếu thốn, thầy trò đều ở nhà gianh. Lớp học, hội trường, nhà ăn toàn bằng tranh, tre, nứa, lá, xung quanh còn là cánh đồng hoang rậm chứ đâu như bây giờ. Tôi đã được đọc trên báo Văn hóa Nghệ An một bài do Hoàng Lê viết về một kỷ niệm như sau: “Giáo sinh của trường hồi ấy đều là thanh niên Hà Nội vừa học hết phổ thông, đa phần là con nhà khá giả sống chủ yếu ở thành thị…vào Sư phạm chỉ là bất đắc chí, trong khi chưa có trường chuyên nghiệp nào mở mà thôi. Có giáo sinh đã từng phát biểu thẳng trong khi nhà trường mở lớp chính trị xác định lòng yêu ngành, yêu nghề, quyết tâm phục vụ nhân dân…Là em không thích nghề “chở đò qua sông”, đúng là “chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm”… Giáo viên trẻ như chúng tôi rất vất vả làm công tác tư tưởng. Bỗng một hôm Bác Hồ đến. Tôi nhớ mãi hôm ấy là 30-10-1956. Chúng tôi đang tổng kết lớp “xác định thái độ học tập cho giáo sinh”. Tin Bác đến làm xôn xao tất cả, mọi người nhìn ra sân, không ngờ Bác lại đi từ phía sau hội trường lên, sau khi Bác đã thăm hết các nhà tắm, nhà vệ sinh, nhà ăn tập thể. Chẳng đợi Giám hiệu cho phép, tất cả ùa ra đón Bác… Bác giơ tay cao, lập tức mọi tiếng ồn ào im bặt. Trước hết Bác phê bình nhà ăn nhiều ruồi quá. Bác bảo thanh niên phải quyết tâm diệt ruồi, các cháu có làm được không?

          – Thưa Bác, được ạ. Bác hỏi: Chiếc đồng hồ có chữ số làm nhiệm vụ ngồi, kim đồng hồ làm việc chạy. Bây giờ kim không chạy nữa, mà rồi con số cũng không muốn ngồi nữa đòi chạy thì có gọi là đồng hồ được không?

          Mọi người đều nhất loạt thưa là: Không ạ!

          Chúng tôi vô cùng phấn khởi bởi chỉ mấy câu Bác nói, chỉ một ví dụ nhỏ của Bác đưa ra thôi mà hơn cả trăm ngàn lời chúng tôi giải thích cho giáo sinh mà vẫn chưa thông để thực sự an tâm với ngành nghề…Từ sau buổi ấy, mọi người hào hứng phấn khởi trong học tập, rất an tâm với nghề, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ nhiều”…

          Ở đâu cần, lại điều ông đến đó. Sở Giáo dục Hà Nội đưa ông về dạy ở trường Phổ thông cấp 2,3 Nguyễn Gia Thiều. Nơi đây ông vừa làm Chủ nhiệm, vừa là Tổng phụ trách Thanh-thiếu niên của trường, vừa kiêm Giám hiệu trường BTVH số 5 của Quận 8, vừa tham gia Chấp hành Quận Đoàn TNLĐ… Ông biết sắp xếp công việc khá khoa học nên đảm bảo tốt các hoạt động trên – chủ yếu là công việc giảng dạy, giáo án đầy đủ, bài vở chấm chu đáo. Ông dành thời giờ từng tháng về từng làng gặp gỡ phụ huynh học sinh, động viên các bậc cha mẹ quan tâm đến học hành của con, vận động các gia đình khó khăn về kinh tế bắt con em bỏ học hãy cho con em trở lại lớp, có học sinh nghèo ông còn giúp đỡ cho cả quần áo và sách vở…Vì vậy mà 45 năm qua rồi, học sinh cũ có người là Hiệu trưởng cấp 3, là Giám đốc Công ty kinh doanh, là Đại tá trong quân đội…hàng năm đến ngày nhà giáo (20/11) vẫn về thăm thầy. Ông giảng dạy ở trường Nguyễn Gia Thiều được 2 năm, Sở Giáo dục lại điều ông về làm Hiệu trưởng trường cấp 2 Việt Hưng. Trường mới mở, cơ sở chưa có gì. Ông phải vận động Hợp tác xã thủ công để dựng mấy phòng học và đóng cho bàn ghế học sinh, mượn đình chùa bỏ hoang ở các thôn để làm lớp học. Ông đi tìm nhà dân cho thầy giáo ở, tổ chức bếp ăn tập thể cho giáo viên…Phân công giáo viên giảng dạy, tổ chức làm giáo cụ trực quan để chống dạy chay, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, mời các nhà văn về nói chuyện với thầy trò… Hàng tuần ông đều đi dự các tiết dạy của các thầy cô để rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy và học. Trường của ông ngày ấy nào đã được “trường ra trường, lớp ra lớp” như sau này cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu. Nhưng chất lượng dạy và học được xếp loại tiên tiến của Quận 8. Thấy ông có năng lực, Sở giáo dục lại điều ông về làm Phó phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Gia Lâm. Năm đó là năm 1960 khi Hà Nội mở rộng, sát nhập thêm một số huyện về thành phố. Quản lý một trường đã vất vả, huống gì quản lý cả 31 xã lúc bấy giờ. Được  cái ông tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào vai trò của nhân dân cũng như cố gắng bản thân. Ông nói ngày lên đường về nước phục vụ, thầy Thanh Đạm có tặng bài thơ trong đó có những câu mà suốt đời ông chẳng thể nào quên: Đó là học để phục vụ nhân dân mà:

          Sự nghiệp của nhân dân

          Dựng bằng tay cày, mũi súng

          Bằng xương máu đấu tranh

          Bằng mồ hôi lao động

          Bằng quá trình cách mạng gian lao

          Đảng đem ta về đứng giữa phong trào

          Tay dìu dắt của mẹ hiền thương mến

          Lời Đảng dạy nghe dịu dàng âu yếm

          Mắt Đảng nhìn chan chứa những bao dung

          Tuổi trẻ đời ta, Đảng tha thiết chờ mong

          Và tất cả chúng ta, nguyện làm thanh niên của Đảng

          …

          Có nhân dân bên ta trong từng giờ gian khó

          Bát ngát tình thương và chan chứa niềm vui

          Ông phân chia khu vực các trường trong huyện thành khu Bắc Đuống, khu Nam Đuống…để các trường học hỏi thi đua dạy tốt, học tốt và kiểm tra giúp đỡ nhau. Phát động học tập Bắc lý – lá cờ đầu của ngành tổ chức kết nghĩa với giáo dục Nam Đàn quê Bác, thường xuyên mời cán bộ tuyên huấn huyện báo cáo thời sự cho giáo viên. Phòng Giáo dục – Đào tạo có kế hoạch bồi dưỡng các bộ môn cho giáo viên và thường xuyên về các trường các xã kiểm tra toàn diện từ Mẫu giáo Vỡ lòng – Bổ túc Văn hóa đến Phổ thông cấp 1, 2.

          Chú trọng trau dồi nhân cách, trang bị kiến thức cho thầy và trò. Nhớ lại những năm tháng ấy, Thái Đào một cán bộ của phòng đã viết:

          Thế hệ chúng tôi

          Được cùng với cha anh sẻ chia một thời gian khó

          Cơm ăn bữa no, bữa đói là thường

          Quần quen vá gối, áo quen lộn cổ

          Đôi dép cao su, đi suốt thời trai trẻ

          Đảng bảo đi là đi

          Đảng bảo đến là đến

          Không suy bì tính toán thiệt hơn

          Nhiều ngày đến trường, dự giờ thăm lớp

          Nhiều đêm xuống xã, xuống thôn

          Họp với Đảng ủy, họp với Chi đoàn

          Thăm lớp bổ túc

          Khi về dựng xe rửa mặt

          Tiếng gà đã báo nửa đêm.

Đúng là như vậy, Trâu Quỳ là nơi phòng GD-ĐT đóng mà xuống xã Trung Mầu, Phù Đổng hay Kim Lan, Văn Đức cũng trên dưới 10 cây số. Có một chuyện về Hoàng Lê nữa mà không nhiều người biết. Đó là người sáng lập ra trường cấp 3 Cao Bá Quát. Ông Đoàn Cầu – nguyên là Hiệu trưởng trường đó có kể rằng: “Khi ông Lê về nhận chức ở phòng Giáo dục – Đào tạo huyện, ông thấy cả huyện rộng lớn này có 31 trường cấp 2 mà chỉ có một trường cấp 3 Nguyễn Gia Thiều đặt ở phố Gia Lâm nên nhiều con em không thể lên đó trọ học được, mà đi về thì không có xe đạp, các phụ huynh rất trăn trở về việc cho con đi học. Ông đã đề xuất với Huyện ủy Gia Lâm và Sở Giáo dục Hà Nội nên mở thêm ít ra 1 trường cấp 3 nữa cho ¾ con em của huyện được nâng cao trình độ. Huyện ủy đồng ý ngay và có công văn lên Thành ủy và Sở Giáo dục. Sở lúc này còn băn khoăn về trường lớp và giáo viên. Ông vận động xã Trung Thành (nay gọi là Cổ Bi) cho mượn tạm mấy phòng bỏ không rồi cùng cán bộ Phòng Giáo dục – Đào tạo lại đi vận động xin tre, xin tranh về lợp lại, mượn bàn ghế hợp tác xã để mở trường cấp 3. Nhân dân các xã gần đấy rất ủng hộ bởi việc làm này là vì học sinh thân yêu. Ông đề xuất đưa Đoàn Cầu là cán bộ của Phòng Giáo dục – Đào tạo về làm Hiệu trưởng, ông này trước đã dạy ở Quế Lâm (Trung Quốc) về nước dạy lại ở Nguyễn Gia Thiều, là Đảng viên, giỏi cả Toán và Trung văn. Về đây ông dạy cho mấy môn, còn văn, sử, chính trị ông Lê ở phòng Giáo dục – Đào tạo sẽ xuống dạy tạm một thời gian, rồi Sở sẽ điều giáo viên về cho. Độ nửa học kỳ một thì có đủ giáo viên, ông Lê mới khỏi phải đến dạy. Ban đầu đặt tên là trường cấp 3 Trung Thành là tên xã, ông Lê khuyên tôi nên đặt là Cao Bá Quát vì gần Phú Thụy, quê hương của danh nhân này, để ta dễ giáo dục truyền thống. Chính ông đã tóm tắt tiểu sử Cao Bá Quát cho tôi ngày ấy. Sau này trường được Sở Giáo dục – Đào tạo rót kinh phí và cả quỹ sổ xố cho tiền xây trường, mới trả trường cũ cho xã mà đi gần về Thị trấn Trâu Quỳ ngày nay”. Hoàng Lê tham gia cả Công đoàn Giáo dục, cả Huyện đoàn Thanh niên lao động…nhiều việc như vậy mà cũng chịu khó học lắm. Mỗi tuần, mấy tối đạp xe qua cầu Long Biên về phố Nhà Chung để học đại học Pháp Văn rồi đại học Nga Văn. Hè thì tập trung ở tận Cầu Giấy cả tháng để học Đại học Sư phạm – khoa Văn (tại chức). Năm 1963 ông lại được điều động về làm Trưởng phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Thanh Trì. Ông vui vẻ ra đi, lại lặn lội ở cơ sở mới chẳng khác gì người thợ xây dựng, khi “xanh cỏ thì đến, đỏ ngói ra đi”. Ở đây ông vẫn học miệt mài ngoài giờ công tác. Có đêm còn đạp xe đạp đến trường Đông Mỹ (quê của Tổng bí thư Đỗ Mười) để nói chuyện về Văn học cách mạng miền Nam với giáo viên trường. Ông chọn trường Yên Sở làm trọng điểm để chỉ đạo chung các trường trong huyện. Rất quan tâm đến đội ngũ giáo viên. Không chỉ về mặt kiến thức và phương pháp giảng dạy mà cả về mặt sinh hoạt vật chất, cố gắng hợp lý hóa gia đình cho cán bộ giáo viên để họ gắn bó với trường, với học sinh. Đặc biệt hàng ngũ Hiệu trưởng trong công tác lãnh đạo và quan hệ với lãnh đạo địa phương trường đóng. Tạo điều kiện tốt bằng cách ưu tiên phân phối xe đạp trong thời điểm hiếm hoi, bao cấp. Sự kiện vịnh Bắc Bộ, Mỹ ném bom miền Bắc (8/1964) các trường lớp phải sơ tán, tăng cường đào hầm hào. Ông yêu cầu giáo viên hãy bền gan khắc phục khó khăn, tìm tòi sáng kiến, phải chu toàn cho được việc giảng dạy và bảo đảm tính mạng cho học sinh bằng bất cứ giá nào, đó là hai mối lo toan lớn lúc này.

Mỗi tháng ông về nhà vài lần. Vợ con ông ở tận Cầu Đuống xa hơn 20 cây số. Được cái vợ ông đã đẹp người lại đẹp nết, làm công nhân nhà máy Diêm Thống Nhất, lương thấp nhưng biết tằn tiện chi tiêu và chăm sóc nuôi dạy con chu đáo để ông yên tâm công tác. Ông đã nói: Những thành tích gì của tôi cũng đều có sự đóng góp của người bạn đời chung thủy đôn hậu và đảm đang đó.

Năm 1965 Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội chuyển ông về Viện Văn học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt nam (nay là Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia) để ông được phát huy hét năng khiếu khoa học xã hội. Viện Văn học bố trí ông vào tổ Văn học Cổ Cận đại Việt Nam. Vào thời điểm đó, Viện trưởng Đặng Thai Mai được sự đồng ý của Hội đồng Chính phủ, đã đứng ra tổ chức lớp Đại học Hán học để đào tạo cán bộ Hán Nôm. Cả tổ Văn học Cổ Cận đều được tham dự, người dạy học có học vấn cao như Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Phạm Phú Tiết, Phạm Thiều, Đào Phương Bình, Nam Trân, Nguyễn Văn Hoàn…Lớp trẻ thì học có Hoàng Lê, Huệ Chi, Băng Thanh, Tú Châu, Đức Vĩ, Văn Phát, Đỗ Văn Hỷ, Kiều Thu Hoạch và một số cán bộ giảng dạy ở các trường đại học lúc đó như Đặng Thanh Lê, Bùi Duy Tân, Nguyễn Văn Thiệu, Lê Ngọc Dậu…Thêm nữa là một số học sinh đã tốt nghiệp THPT…Lớp Đại học Hán học cũng như cả Viện Văn học đều sơ tán lên Hiệp Hòa – Hà Bắc. Lớp học trong một căn hầm nổi hình khối, tiếp nối với đường hầm ngầm, thầy trò dạy và học bình tĩnh trong khi bom Mỹ trút xuống rầm rầm khắp nơi. Một lần ông Sáclơ Phuốcniô (Charles Fourniau) một nhà sử học người Pháp có đến thăm lớp Đại học Hán học, ông rất ngạc nhiên thấy các cụ say sưa giảng dạy Kinh Thư hoặc sôi nổi thảo luận về tập thơ Ngư Phong của Nguyễn Quang Bích, trò thì chăm chú ghi, súng AK ngoặc treo sau ghế, nếu có kẻng báo động là sẵn sàng tay súng chiến đấu cùng dân quân địa phương bắn máy bay Mỹ. Ba năm liền học và làm việc như thế, cũng có khi đi điền dã ở trận địa Yên Thế – Bắc Giang, hoặc ở Nghệ An…Kiến thức trong sách vở gắn liền với thực tế sôi động trong những năm chiến tranh ác liệt đã tôi luyện số cán bộ nghiên cứu này, trong đó có ông ngày càng vững vàng. PGS Phan Văn Các đã viết: …”Giữa không khí căng thẳng khẩn trương của quân dân miền Bắc, nước ta bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của bọn xâm lược Mỹ. Quân và dân miền Nam đã giáng những đòn sấm sét Bầu Bàng, Plây Me xuống đầu các sư đoàn Mỹ đầu tiên đổ bộ vào miền Nam nước ta, cũng là lúc cả thế giới nín thở theo dõi cuộc đọ sức lịch sử giữa dân tộc ta với tên đầu sỏ đế quốc. Đảng và Nhà nước ta với tần nhìn văn hóa xa rộng và niềm tin vào cạc mạng tất thắng đã quyết định mở lớp Hán học đầu tiên của cách mạng, mà đa số học viên khi đó tràn đầy nhiệt huyết thanh niên, đến nay đã trở nên những chuyên gia già dặn trong lĩnh vực cổ học nước nhà”. Sau đó ông (HL) và cả tổ Văn học Cổ Cận bắt tay vào công trình biên soạn Thơ Văn Lý – Trần (nhiều tập) đi sưu tầm khảo sát khắp nơi, nào Tuyên Quang, Phú Thọ, nào Cao Bằng, Lạng Sơn, nào Quảng Ninh, Nam Hà, Thanh Hóa…Vừa làm vừa học, lại tiếp tục theo lớp Chuyên tu Hán Nôm trên Đại học Mở những năm sau, có mời cả giáo sư Du Quốc Ân ở trung Quốc sang dạy. “Hán Nôm học quả tình là một cái gì hơi khó nắm bắt nếu không muốn nói là còn mông lung” (ý kiến Giáo sư Trần Nghĩa) nhưng đã gắn bó thì cứ đi là đến, đời này chưa xong lại tiếp đời sau, chẳng sợ gì cả.

Hoàng Lê ngày qua tháng lại lăn lộn với các thư viện, với kho sách Hán Nôm – di sản quý hiếm của dân tộc, đi Thái Bình, đi Hà Nam Ninh cộng tác với bạn bè ra công trình Lê Quý Đôn nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII, Danh nhân Hà Nam Ninh và viết luận văn phó tiến sĩ với đề tài Thơ Văn Ninh – Tốn mã số 504.32 bảo vệ tháng 12-1977. Được các Giáo sư Cao Xuân Huy, Lê Trí Viễn, Đào Phương Bình, xếp loại ưu: và sách đã được in. Đúng như thày Đào Phương Bình nói:

Hán Nôm ngành học xây không mỏi

Tân – Cựu rừng hoa hái rất cân

Ánh đuốc soi vàng thau, ngọc đá

Ngọn cờ giương Sử, Triết, Nôm, Văn

Ban Hán Nôm được thành lập năm 1970 do GS Phạm Thiều là Trưởng ban, đến năm 1975 sau chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Giáo sư được điều vào TP.HCM làm Giám đốc Thư viện. Quyền Trưởng ban Hán Nôm lúc này là ông Phạm Huy Châu…Năm 1979 theo quyết định 326/CP của Hội đồng Chính phủ Ban Hán Nôm chuyển thành Viện nghiên cứu Hán Nôm. GS Nguyễn Đổng Chi được điều từ TP.HCM ra làm Viện trưởng, ông Hoàng Lê lúc này đang là cán bộ Vụ tổ chức cán bộ của Ủy ban khoa học xã hội, phụ trách công tác đào tạo nghiên cứu sinh và theo dõi chuyên môn Viện văn học, Viện ngôn ngữ học và Ban Hán Nôm. Vụ Tổ chức cán bộ điều ông về Viện nghiên cứu Hán Nôm giữ chức Thư ký Khoa học Viện, kiêm Trưởng ban Hán cổ và làm Bí thưc chi bộ. Ông được đào tạo về Hán Nôm nay lại công tác ở Viện Hán Nôm khác gì “cá gặp nước, rồng gặp mây”, tha hồ mà vẫy vùng bơi lội. Ông đã chủ biên cuốn Dịch từ Hán sang Việt, một khoa học, một nghệ thuật (Xb 1982) Thư mục bia giản lược (Xb 1986), Mạc Thị Thế Phả hợp biên (1988)…đồng tác giả nhiều cuốn: Một số vấn đề văn bản Hán Nôm (Xb 1982) Phạm Thận Duật, Cuộc đời và Tác phẩm (Xb 1989), Danh mục Văn khắc Hán Nôm (Xb 1991), Văn khắc Hán Nôm tuyển chọn (Xb 1993)…Không những nghiên cứu, dịch thuật các sách mà hầu như năm nào ông cũng đưa các cán bộ trong Viện về các làng, xã, huyện của các tỉnh để sưu tầm văn bản Hán Nôm, bổ sung cho kho sách của Viện, Nhà báo Trần Văn Mỹ đã có bài viết về ông như sau:

“…Hoàng Lê sống bình dị, khiêm tốn và cần mẫn, ở các di tích mà anh có dịp đếm, anh đi sâu tìm hiểu, ghi chép các sắc phong, thần tích cùng phong tục, lễ hội, các sổ tay ghi chép trong mấy chục năm qua, được anh sắp đặt ngay ngắn và phân thành từng tập riêng theo tên làng, tên xã. Chính từ các tư liệu này, Hoàng Lê đã viết nhiều bài đăng trên các báo, tạp chí. Từ các liệu anh nêu trên báo, nhân dân nhiều nơi hiểu được giá trị tiềm ẩn của di tích ngay trên quê hương mình. Nhờ vậy mà ngôi đình làng Thanh Am (xã Thượng Thanh, Gia Lâm) thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lâu rơi vào cảnh đổ nát đã được dân làng kịp thời sửa chữa. Năm 1990 ngôi đình thờ Trạng Trình đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn. Một di tích khác là đình Dương Hà thờ Hà Uyên tướng tài thời Hai Bà Trưng cũng được anh tìm hiểu phát hiện nhiều tư liệu quý bổ sung cho giai đoạn lịch sử hào hùng này. Cạnh đình Dương Hà là chùa Hiển Quang, xưa có tới chục tấm bia đá, nay tản mát khắp làng. Qua văn bia dịch, các bô lão ở đây đã hình dung được dáng vẻ của chùa xưa. Lập tức, các tấm bia được thu gom về chùa và xây nhà bia bảo quản.

Ngoài ra anh còn giúp cho nhiều nơi được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa như đền Quận Công ở xã Yên Thường, đình chùa làng Cam xã Cổ Bi, đình chùa Sài Đồng xã Gia Thụy, đình chùa Trường Lâm và Kim Quan xã Việt Hưng, chùa Vĩnh Thái ở quê ông. (Nơi đồng chí Nguyễn Văn Linh hoạt động từ năm 1939 đến 1941), đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở Hải Dương…

TS Hoàng Lê đang đọc thơ do một thành viên Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội gửi tặng (ảnh chụp năm 2015 nhân kỷ niệm 20 năm Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội)

TS Hoàng Lê đang đọc thơ do một thành viên Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội gửi tặng (ảnh chụp năm 2015 nhân kỷ niệm 20 năm Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội)

Năm 1994 ông nghỉ hưu, thực ra Hoàng Lê đâu có nghỉ. Ông vẫn tiếp tục đi sưu tầm ở các tỉnh, trong các chuyến đi sưu tầm ấy thật là gian khổ, chứ đâu có “xuôi chèo mát mái”. Khi thì cơm hàng cháo chợ, khi thì lội suối qua sông, có khi còn bị trấn lột trên đường…TS Nguyễn Tá Nhí đã có câu đối tặng:

-  Hành hương về quê họ Mạc, tắm nước biển

Ăn tôm hùm, gan ruột cồn cào như muối sát

- Tùy tùng theo đám “Vua Lê”, in văn bia

Chép câu đối, chân tay nhem nhuốc tựa nhào than

Ông ra cả đảo Cát Bà Quảng Ninh, đảo Én ở Quy Nhơn và Côn Đảo, ông còn đi Ban Mê Thuật, Tây Ninh, Củ Chi, Cao Lãnh, Đồng Tháp, còn Cao Bằng, Lạng Sơn, Huế, TP.HCM ông cũng đi nhiều lần. Giở 12 quyển album của ông, mỗi quyển 200 ảnh thấy ông đã đi cả Nga (1982), Đức, Hà Lan, Bỉ, Pháp (2000), Trung Quốc (2001). Đi đâu ông cũng chụp ảnh và ghi chép tỉ mỉ và khi về ông lại viết bài cho các báo và tạp chí, tập san của Trung ương và các địa phương với bút danh Nhị Hoàng, Hà Thanh, Lê Hoàng Mạc. Ông tiếp tục viết các công trình: Những chuyện về Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (Xb 1996), Trác Bút xưa và nay (Xb 1996), Di tích Đình chùa Thanh Am (Xb 1996), Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử (Xb 1996), Những gương mặt phụ nữ Việt Nam (Xb 1996), Thanh Hóa thời Lê (Xb 1997), Địa chí Nông Cống (Xb 1998), Mạc Dăng Dung và vương triều Mạc (Xb 1999) Lễ hội Thăng Long (Xb 1998, 2001), Làng Dương Lôi với vương triều Lý (Xb 2000), Danh nhân đất Ninh Bình (Xb 2000), gần đây nhất là cuốn Hợp biên thế phả họ Mạc (Xb 2001) và Gương sáng dòng họ (Xb 2002). Trong 25 cuốn sách đó có cuốn được giải thưởng của UBKHXHVN (Thơ văn Lý Trần, Văn khắc Hán Nôm tuyển chọn), có cuốn được giải thưởng VHNT mang tên Nguyễn Khuyến của tỉnh Hà Nam Ninh (Danh nhân Hà Nam Ninh), có cuốn được giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (Lễ hội Thăng Long), có cuốn được GS Trần Quốc Vượng khen: rất dày dặn, rất sáng giá và rất bổ ích (Hợp biên thế phả họ Mạc)….

TS. Hoàng Lê (thứ năm từ trái sang) và các vị có nhiều đóng góp trong quá trình hoạt động của Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội nhận quà lưu niệm tri ân.

TS. Hoàng Lê (thứ năm từ trái sang) và các vị có nhiều đóng góp trong quá trình hoạt động của Ban liên lạc họ Mạc Hà Nội nhận quà lưu niệm tri ân.

Được hân hạnh quen biết Hoàng Lê đã lâu, tôi thường lui tới chơi, thấy lúc nào ông cũng bận rộn dịch Gia phả, Di chúc, Thần phả cho các nơi. Tôi hỏi: Thù lao được bao nhiêu mà ông vất vả thế? Ông cười hồn nhiên nói: Mình không sống bằng phong bao, phong bì. Đến sách in ra cũng chỉ được biếu sách chứ có nhuận bút đâu (!) huống gì những thứ này là do bà con nhờ vả, mình giúp được vì nó là cái nghiệp rồi, ai lại nỡ nhận tiền, danh dự con người là hơn chứ. Đa phần là dịch cho các họ gốc Mạc ấy mà.

Tôi nảy ra ý viết về người tốt, việc tốt; bèn thăm dò ý kiến thì ông bảo: “Dân nhà báo các anh được cái nhạy cảm và xông xáo lắm. Tôi (HL) nghĩ là rất nên, bởi đây là sự quan tâm của nhiều người và cũng là sự đòi hỏi thôi thúc của các dòng họ. Còn viết về ai, viết thế nào thì tùy ở anh, nhưng tôi nghĩ là phải chân thực đừng hư cấu, đừng thổi phồng mới có tác dụng giáo dục.

Tôi có thể giới thiệu cho Việt Châu một số vị lão thành cách mạng, một số anh hùng lao động và một số bà mẹ Việt Nam anh hùng vốn gốc họ Mạc để anh tìm hiểu và viết. Có trước mới có sau. Riêng tôi thì nên thôi vì đã có Mỹ Văn, Trần Văn Mỹ, Hoàng Anh Nhân, Lê Tuấn Nhựa đã viết, đã đăng báo rồi”. Mặc dù ông nói vậy, nhưng mỗi người viết về một góc cạnh khác nhau, tôi vẫn viết về ông, vì tôi nghĩ Hoàng Lê đúng là một tấm gương trong sáng thông minh, khiêm tốn, giản dị, cần cù, năng động, suốt đời học hỏi và hết mình phục vụ, sống vì mọi người. Ông đã ở vào cái tuổi “cổ lai hi” mà vẫn lạc quan, vẫn nhiệt tình tham gia Hội Văn nghệ dân gian Việt nam, câu lạc bộ Unesco – Thông tin các dòng họ, Trưởng ban liên lạc họ Mạc Hà Nội…Ông là một trong những cây bút tích cực minh oan cho Thái tổ Mạc Đăng Dung, đề cao vương triều MẠc có cơ sở khoa học và cũng là người tích cực trong cuộc hành trình “vấn Tổ, tầm Tông”, chắp nối các chi họ Mạc và gốc Mạc ở ba miền nước Việt Nam. Ông rất chịu khó đọc, đi, ghi chép, suy nghĩ và viết…vừa nhạy cảm lại vừa có trách nhiệm với cây bút của mình. Ông đã được chiến sĩ thi đua 5 năm, được Đảng trao tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, kỷ niệm chương vì sự nghiệp Khoa học xã hội và nhân văn nhưng phần thưởng lớn nhất đối với ông, theo tôi nghĩ là được mọi người tôn kính mến yêu và sâu nặng nghĩa tình

Việt Châu 

Gương sáng dòng họ tập 2, Nxb Lao động

Bài viết này tôi đã tham khảo trích dẫn các tài liệu sau:

  • Gia phả họ Hoàng (1989)
  • Địa chí Nông Cống (Nxb KHXH 1998)
  • Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 25 (tháng 11/2000)
  • 35 năm một chặng đường (2002)
  • Nhớ lại và úy nghĩ về KHX T.W (1991)
  • Hoàng Lê một nhịp cầu, một chặng đường (Mỹ Văn VHVT số 2 tháng 3/1995)
  • Hoàng Lê người say Hán Nôm – Trần Văn Mỹ, Đại đoàn kết (199…), Viện nghiên cứu Hán Nôm, 30 năm xây dựng và phát triển (2000)
  • Băng hình của Đài truyền hình Việt Nam phát sóng 3/1998